Trường Đại học Giao thông vận tải ngày nay có tiền thân là Trường Cao
đẳng công chính thành lập từ năm 1918 dưới thời Pháp thuộc, được khai
giảng lại ngày 15/11/1945 theo Sắc lệnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Giai
đoạn từ năm 1945 đến đầu năm 1960, Nhà trường thực hiện nhiệm vụ đào
tạo Cán bộ có trình độ Cao đẳng và Trung cấp Tháng 10 năm 1947, khoá
đầu tiên của Trường đã được khai giảng với 2 lớp Cao đẳng và 1 lớp
Trung đẳng. Trong điều kiện vô cùng ác liệt của cuộc kháng chiến
chống thực dân Pháp, Nhà trường phải sơ tán đến nhiều địa điểm, nhiều
lần đổi tên, chia tách hoặc sát nhập; nhưng nhà trường vẫn đảm bảo hoàn
thành đào tạo 12 khoá Cao đẳng và Trung cấp, cung cấp hàng trăm cán bộ
kỹ thuật và quản lý kinh tế cho ngành giao thông, Bưu điện, Thuỷ lợi;
đóng góp những thành tích quan trong cho công cuộc kháng chiến, kiến
quốc. Tháng Tám năm 1960, Bộ Giao thông vận tải quyết định thành
lập Ban Xây dựng Trường Đại học Giao thông vận tải . Ngày 1 tháng 12
năm 1960, khoá I của Trường Đại học Giao thông vận tải đã chính thức
được khai giảng với 117 sinh viên là các cán bộ lãnh đạo, cán bộ kỹ
thuật trung cấp của ngành về học chuyển cấp các ngành Cầu, Đường sắt,
Đường bộ, Bưu điện, Quản lý công trình, Quản lý cơ khí. Đến năm sau có
thêm lớp bưu điện chuyển về. Ngày 24 tháng 3 năm 1962, Thủ tướng
Chính phủ có Quyết định số 42/CP chính thức thành lập trường Đại học
Giao thông vận tải với các nhiệm vụ chính là: “1- Đào tạo các loại
cán bộ kỹ thuật cao cấp về giao thông vận tải. Bổ túc cho cán bộ trung
cấp kỹ thuật giao thông vận tải lên cán bộ cao cấp kỹ thuật của ngành
này. 2- Bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo của ngành giao thông vận tải nắm
được những nguyên lý cơ bản về kỹ thuật cao cấp của ngành này. 3-
Tổ chức và chỉ đạo việc học hàm thụ, học tại chức, học ban đêm để đào
tạo cán bộ kỹ thuật và nghiệp vụ về giao thông vận tải. 4- Nghiên cứu khoa học và kỹ thuật về giao thông vận tải”.
Sau khi có quyết định thành lập trường, bộ máy quản lý được hình thành
gồm Ban Giám hiệu, các Khoa: Công trình, Cơ khí, Vận tải; một số phòng,
ban chức năng : Hành chính- Quản trị, Giáo vụ, Tổ chức nhân sự..., và
một số tổ bộ môn cơ bản, kỹ thuật cơ sở chuyên môn . Đảng bộ trường lúc
đầu mới chỉ là Chi bộ với 10 Đảng viên ( năm 1960), đến Đại hội lần thứ
nhất (ngày 12 tháng 1 năm 1962) đã trở thành Đảng bộ cơ sở với 199 Đảng
viên gồm 13 Chi bộ ( 2 Chi bộ cơ quan và 11 Chi bộ sinh viên), rồi tăng
lên 450 Đồng chí ( 1963) . Thực hiện Nghị quyết của Đảng bộ, từ năm học
1961- 1962, Nhà trường đã đưa nhiều lớp sinh viên đi thực tế, vừa học
tập, vừa lao động phục vụ tại các cơ sở trong và ngoài ngành. Giai đoạn
1961- 1965 là giai đoạn phát triển mạnh mẽ của phong trào “vừa học, và
làm”, kết quả giảng dạy và học tập luôn gắn liền với thực tiễn sản
xuất. Nhiều bản thiết kế tốt nghiệp đã được ứng dụng có hiệu quả trong
sản xuất với chất lượng tốt. Quy mô đào tạo cũng tăng nhanh, lúc mới
thành lập mới chỉ có 4 ngành học với 117 sinh viên, đến năm học
1964-1965 đã có 13 ngành với tổng số sinh viên học tập tại trường lên
đến 1.263 người. Cùng với đào tạo tập trung, đào tạo tại chức cũng được
đẩy mạnh và phát triển nhanh chóng. Năm 1961, khai giảng lớp “6-1”- lớp
tại chức ban đêm đầu tiên gồm 30 cán bộ kỹ thuật của Tổng Cục đường sắt
gửi sang học. Đến năm 1962 chính thức chiêu sinh khoá 1 tại chức các
ngành Cầu, Đường sắt, Đường bộ. Đến năm học 1965-1966 đã có 260 sinh
viên thuộc hệ này, theo học 6 ngành. Ngày 5 tháng 8 năm 1964 Bộ Giao
thông vận tải đã ra quyết định thành lập Khoa Tại chức với đầy đủ bộ
máy làm công tác tổ chức quản lý giảng dạy, học tập hệ tại chức.
Chương trình, nội dung đào tạo lúc đầu còn nhiều khó khăn; chủ yếu dựa
vào các chương trình đào tạo của Liên Xô, Trung Quốc. Nhà trường đã tổ
chức nhiều hội nghị với các cán bộ phụ trách một số ngành của Bộ Giao
thông vận tải, các cán bộ ra công tác nhiều năm; toạ đàm trao đổi với
các trường bạn như đại học Bách Khoa, Sư phạm, Thuỷ lợi, Kiến trúc để
xây dựng và từng bước hoàn thiện mục tiêu, chương trình đào tạo.
Tài liệu giáo trình phục vụ giảng dạy của trường lúc ban đầu chủ yếu là
tài liệu cũ bằng tiếng Pháp, hoặc bài giảng viết tay của giáo viên, sau
đó đã tổ chức dịch một số tài liệu bằng tiếng Trung Quốc và biên soạn
một số tài liệu kỹ thuật mang tính phổ cập. Việc thực tập, thí
nghiệm của sinh viên dựa vào Viện Thí nghiệm giao thông, các trường bạn
( Bách Khoa, Sư phạm). Mặt khác, Nhà trường tổ chức cho giáo viên và
sinh viên làm các mô hình về cầu thép, cầu bê tông, trụ cầu..., mời các
cán bộ có kinh nghiệm trong sản xuất về báo cáo, tổ chức chụp ảnh tư
liệu để phục vụ giảng dạy. Khi mới thành lập trường mới chỉ có 19
Giáo viên sau đó đã tăng lên 50 rồi 100 người vào những năm 1963-1964,
và gần 300 người vào năm 1965-1966, gồm những đồng chí tốt nghiệp từ
Liên Xô, Trung Quốc, đào tạo từ các trường trong nước, có phẩm chất
chính trị tốt, có năng lực chuyên môn giỏi. Nhà trường đã chú trọng bồi
dưỡng về chính trị tư tưởng, văn hoá, khoa học kỹ thuật và chuyên môn
nghiệp vụ bằng nhiều biện pháp: tổ chức bồi dưỡng ngoại ngữ, bồi dưỡng
chuyên ngành, hội nghị chuyên đề, sinh hoạt học tập...vừa tập trung,
vừa tại chức. Tổ chức kiến tập, thực tập, dự giờ, thâm nhập thực tế,
kèm cặp giữa cũ và mới...; cử cán bộ ra nước ngoài học tập. Nhà trường
còn tranh thủ mời 4 chuyên gia Liên Xô sang giúp trường xây dựng chương
trình, nội dung đào tạo cho các kỹ sư ngành vận tải đường ô tô, đường
biển và giúp bồi dưỡng một số giáo viên cho các ngành này. Công tác
nghiên cứu khoa học trong giai đoạn này cũng thu được những kết quả
đáng phấn khởi. Hội đồng khoa học được thành lập, xác định nội dung,
phương hướng nghiên cứu. Từ những năm 1960-1961 nhà trường đã sớm quan
tâm tới nghiên cứu khoa học, tổ chức ứng dụng vào thực tiễn. Cơ sở
vật chất của trường cũng từng bước được bổ sung thêm. Địa bàn của
trường được mở rộng gồm 3 khu: Cầu giấy, Voi phục, Láng. Thư viện của
trường lúc đầu chỉ có vài chục cuốn sách đến năm 1964-1965 đã có trên
20.000 cuốn, trong đó 60% bằng tiếng Việt. Xưởng Thực hành được thành
lập năm 1962. Trong 5 năm ( 1960-1965) trường Đại học Giao thông
vận tải đã trưởng thành nhiều mặt, mọi hoạt động của trường đi vào nền
nếp ổn định, đã đào tạo được 555 kỹ sư kỹ thuật và cán bộ quản lý kinh
tế. Nhiều phong trào thi đua sôi nổi trong học tập, giảng dạy đã được
phát động và mang lại hiệu quả thiết thực. Nhà trường là trường đầu
tiên được Bộ Đại học tặng cờ “Trường Tiên tiến” của Bộ. Bộ môn Cầu được
Chính phủ công nhận là đơn vị “ Lao động xã hội chủ nghĩa” và tặng
thưởng Huân chương Lao động hạng Ba. Năm 1965, cuộc kháng chiến
chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta bước sang giai đoạn khó khăn, ác liệt.
Theo lệnh của Trung ương,nhà trường nhanh chóng triển khai đưa toàn bộ
cán bộ, giáo viên, công nhân viên và sinh viên đi sơ tán lên vùng núi
Mai Sưu huyện Lục Nam, tỉnh Hà Bắc. Địa bàn đóng quân cả trường trên 3
xã Trường Sơn, Bình Sơn, Hùng Sơn, về sau mở rộng thêm 2 xã nữa là Bắc
Sơn và Mai Sơn, cách nhau hàng chục km. Riêng Khoa Tại chức sơ tán tại
Hát Môn huyện Phúc Thọ, Hà Tây. Sau khi ổn định nơi ăn ở, học tập
cho 20 Bộ môn, 60 lớp học, Nhà trường bắt tay vào nhiệm vụ đào tạo,
trong đó khoá 6, khoá 7, mỗi khoá gần 1.000 sinh viên. Số lượng ngành
học tăng từ 13 ngành lên 20 ngành, trong đó có một số ngành mới như Đầu
máy Đi-ê-zen, Thông tin- Tín hiệu, Kinh tế xây dựng, Vận tải sông biển,
Điện tàu thuỷ.... Trường còn tiếp nhận đào tạo 300 cán bộ quản lý B để
chuẩn bị cho việc tiếp quản các đô thị miền Nam ( học trong 6 tháng).
Tổng số sinh viên toàn trường lúc này có 3.100 người. Nhà trường còn tổ
chức các phân Khoa, liên trạm dọc theo tuyến giao thông khu Bốn, cử cán
bộ vào phụ trách tại chỗ đảm bảo học tập đều đặn cho trên 300 cán bộ
vừa học vừa làm trên tuyến lửa khu Bốn. Ngoài việc chú ý phát triển quy
mô, nhà trường tập trung từng bước nâng cao chất lượng đào tạo. Hầu hết
các lớp khoá 3,4,5,6 đều đạt kết quả học tập cao, nhiều lớp tốt nghiệp
90-95 %. Cùng với nhiệm vụ đào tạo, công tác nghiên cứu khoa học
được coi là nhiệm vụ cấp thiết trong giai đoạn này. Sau khi Ban Nghiên
cứu khoa học được thành lập, nhiều tổ môn, nhiều giáo viên đã đã tích
cực tham gia nghiên cứu khoa học. Trong thời gian sơ tán đã tiến hành
trên 50 đề tài, trong đó có những công trình thiết thực phục vụ sản
xuất, chiến đấu. Nhờ sự cố gắng không mệt mỏi, nhiều tập thể nhiều
năm liền được công nhận là Tập thể lao động xã hội chủ nghĩa ( Tổ môn
Cầu, Đường bộ, Sức bền vật liệu, Đầu máy, Toa xe, Vận tải sắt,Vật lý).
Nhiều cán bộ, giáo viên, công nhân viên liên tục là Chiến sỹ thi đua.
Trước yêu cầu của thực tiễn và sự phát triển cả về quy mô và ngành nghề
đào tạo, ngày 23 tháng 7 năm 1968, Thủ tướng Chính phủ có quyết định
tách Trường Đại học Giao thông vận tải thành 2 trường: Trường Đại học
Giao thông Đường sắt- Đường bộ ở Hà Nội và Phân hiệu Đại học Đường thuỷ
ở Hải Phòng. Khi đó Trường Đại học Giao thông Đường sắt- Đường bộ còn 5
Khoa, 16 ngành học với trên 3.000 sinh viên, 600 cán bộ, giáo viên,
công nhân viên. Toàn trường sôi nổi phong trào thi đua học tập,
tranh thủ mọi thời gian ban ngày để học, thời gian ban đêm để mạn đàm,
trao đổi, vừa làm vừa học, lập ra từng đôi bạn giúp đỡ nhau học tập.
Khoa Cơ khí có phong trào kết nghĩa giữa lớp cũ và lớp mới cùng ngành
nghề để trao đổi kinh nghiệm, tổ chức “Khối máy đỏ” đã đem lại nhiều
tác dụng, thúc đẩy nhau học tập.Đoàn Thanh niên có phong trào “ Dũng sỹ
học tập”, tổ chức hội nghị dạy tốt, học tốt từ các lớp, các khoa đến
toàn trường. Phát huy truyền thống vừa học vừa làm của những năm
trước đây, trên 160 giáo viên, 1.500 sinh viên các khoá 6,7,8 có mặt
trên nhiều công trường, xí nghiệp, các tuyến giao thông bị địch đánh
phá, tham gia làm nhiệm vụ khôi phục, đảm bảo giao thông, giúp nhân dân
sản xuất, chiến đấu. Từ năm 1966 đến năm 1971, Nhà trường đã động viên
trên 150 sinh viên, giáo viên, công nhân viên lên đường đi chiến đấu;
trong đó có nhiều sinh viên tham gia các binh chủng Công binh, Hải
quân, Không quân, đã lập được những thành tích xuất sắc. Nhà
trường được Bộ Đại học- THCN công nhận là trường Tiên tiến 2 năm học
liền (1965-1966 và 1966-1967). Năm 1969, Nhà trường được Bộ Giao thông
vận tải tặng Cờ thi đua “Trường khá nhất”, được Trung ương Đảng và Nhà
nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Ba. Năm 1968, đế quốc Mỹ
và bè lũ tay sai phải ngồi vào bàn đàm phán tại Hội nghị Pa-ri, chấp
nhận ngừng ném bom phá hoại miền Bắc. Tháng 9 năm 1968, nhà trường rời
Mai Sưu về Hà Nội. Riêng sinh viên năm thứ nhất và năm thứ hai (khoá 9,
10) do Khoa Cơ bản phụ trách tiếp tục ở lại đến tháng 7 năm 1971 mới về
hẳn.
Quang cảnh Nhà trường những ngày đầu về Hà Nội
Về đến Hà Nội, một số cơ sở trường lớp cũ bị phá dỡ trong chiến tranh
hoặc bị cơ quan khác chiếm dụng, nhà trường phải bắt tay ngay vào xây
dựng cơ sở trường lớp để tổ chức giảng dạy, học tập. Một số điểm vệ
tinh như Định Công, Tây Tựu, Xuân Đỉnh, Gia Quất phải được sử dụng
trong khi nhà trường làm thủ tục xin kinh phí xây dựng nhà học 5 tầng
và một số nhà vĩnh cửu phục vụ cho sự phát triển của Nhà trường trong
những năm tiếp theo. Thực hiện phương châm chỉ đạo chung, vừa lo
tiếp tục giảng dạy, học tập, Nhà trường tổ chức cho cán bộ, sinh viên
khoa Công trình thành đoàn “D71” đi làm nhiệm vụ khảo sát thiết kế
tuyến đường bộ Tây Nghệ An, đường vào mỏ A-mi-ăng Vĩnh Phú. Năm 1972,
do đế quốc Mỹ đánh phá ác liệt miền Bắc, Nhà trường phải sơ tán đến hai
xã Thanh Thuỷ và Hồng Dương ( Huyện Thanh Oai- Hà Tây). Đến nơi, một
mặt vừa khẩn trương tổ chức ổn định nơi ăn ở, triển khai ngay việc
giảng dạy học tập và tổ chức từng đợt ra quân đi phục vụ đảm bảo giao
thông, làm nhiệm vụ tiếp cứu, sửa chữa cầu đường, phương tiện, kho
tàng, nối lại đường dây thông tin liên lạc, vận tải... trên 60 địa điểm
thuộc các tỉnh thành Hà Nội, Lạng Sơn, Hà Bắc, Bắc Thái, Vĩnh Phú, Ninh
Bình, Thanh Hoá... 1.500 cán bộ, thày trò trong 3 tháng đã lao động
trên 3 vạn ngày công, khảo sát, thiết kế 28 cầu tạm, 12 định hình cầu
có khẩu độ 12- 24 m, bảo dưỡng, sửa chữa nhiều cầu chính, hơn 10 km
đường sắt, tham gia thi công toàn bộ tuyến đường Kép- Đông Anh- Thái
Nguyên, láng nhựa nâng cấp 20 km đường 1B, bảo dưỡng gần 100 máy thi
công và phương tiện vận tải, thi công 10 km cáp ngầm và đường dây thông
tin, vận chuyển 4 vạn tấn hàng ở Lạng Sơn và ga Kép, thi công ứng cứu
đảm bảo thông xe kịp thời các cầu Việt Trì, sông Sỏi, Trà vườn, Thịnh
kỷ, Đa phúc... và hoàn thành hơn 10 đề tài nghiên cứu khoa học. Đế quốc
Mỹ ngày càng đánh phá ác liệt, Trường lại chuyển địa điểm sơ tán từ
Thanh Oai- Hà Tây sang các xã Mễ Sở, Liên Nghĩa- huyện Văn Giang- Hưng
Yên. Trong gian nan, thử thách khắc nghiệt, cán bộ, giáo viên, công
nhân viên và sinh viên của trường đã thể hiện bản lĩnh vững vàng, vượt
qua khó khăn, lập nhiệu thành tích trong đào tạo cũng như phục vụ sản
xuất và chiến đấu, được Bộ Giao thông vận tải tặng cờ “Trường khá nhất”
năm học 1971-1972, Quốc hội và Chính phủ tặng Huân chương Kháng chiến
hạng Nhì (tháng 4 năm 1973). Đầu năm 1973, trường trở về Hà Nội. Về
đến Hà Nội, toàn trường bắt tay vào ổn định nơi ăn ở, học tập tại khu
Cầu Giấy. Toàn trường nhanh chóng sửa chữa, củng cố nơi ở, học tập, mua
sắm trang thiết bị, mở rộng phạm vi hoạt động của Thư viện, Xưởng Thực
tập, phòng thí nghiệm... Trước tình hình cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu
nước đang có những bước phát triển lớn mạnh, Nhà trường đã chủ động đề
nghị với Bộ Giao thông vận tải và Bộ Quốc phòng để thày và trò tham gia
xây dựng tuyến đường Đông Trường Sơn. Được sự nhất trí của Trung ương,
Nhà trường đã phối hợp với Bộ Tư lệnh Trường Sơn, đưa 119 giáo viên và
sinh viên khoa Công trình ( gồm các lớp Đường bộ khoá 9 và khoá 10) với
phiên hiệu “Đội TS 73” đi làm nhiệm vụ khảo sát, thiết kế tuyến đường
Trường Sơn, đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, được Bộ Đại học và THCN
tặng bằng khen, Bộ Tư lệnh Trường Sơn tặng cờ “Mở đường thắng lợi”.
Nhà trường tiếp tục phương châm mở rộng quy mô đào tạo và đẩy mạnh công
tác nghiên cứu, truyền bá khoa học, mỗi năm trung bình có từ 30 – 50 đề
tài nghiên cứu. Hình thức nghiên cứu theo hợp đồng được mở rộng. Công
tác nghiên cứu khoa học trong sinh viên đã phát triển trong nhiều lớp,
từng bước trở thành một hoạt động có nề nếp. Tranh thủ sự giúp đỡ
của các nước anh em, hoạt động đối ngoại của Trường đã đạt được những
kết quả nhất định. Các nước như Liên Xô, Trung Quốc, Ba Lan, Tiệp Khắc,
CHDC Đức... đã giúp đỡ, cộng tác với Nhà trường trong việc đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ, cử chuyên gia sang giúp, trao đổi học tập, sách báo.
Sau năm 1975, cả nước hoàn toàn độc lập, thống nhất. Dưới sự lãnh đạo
của Đảng, nhân dân ta bước vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội trên
phạm vi cả nước. Điều kiện kinh tế- xã hội có nhiều điều kiện thuận lợi
nhưng cũng không ít khó khăn. Trong 2 năm 1975, 1976, Nhà trường
sắp xếp lại tổ chức trên quy mô lớn và đồng bộ. Ngoài việc cung cấp 30
cán bộ cho miền Nam, tiến hành đề bạt, thuyên chuyển, thay đổi chức
danh nhiều cán bộ Trưởng, Phó Phòng, Ban, Khoa, Xưởng, hình thành một
đội ngũ cán bộ nòng cốt đủ mạnh, đảm đương nhiệm vụ mới. Năm
1984, trường chuyển về Bộ Đại học và THCN ( Nay là Bộ Giáo dục và Đào
tạo) quản lý. Năm 1985, trường được đổi tên thành Trường Đại học Giao
thông vận tải. Từ năm học 1975-1976 trở đi, sự nghiệp đào tạo của
Nhà trường từng bước ổn định và có bước phát triển mới. Thày và Trò
tiếp tục thực hiện chủ trương “Giảng dạy, học tập kết hợp với phục vụ”
như tổ chức cho sinh viên khoá cuối đi làm nhiệm vụ thực tập khảo sát
thiết kế tuyến đường biên giới Việt - Trung và bảo vệ tốt nghiệp tại
hiện trường, tham gia lao động đắp đê sông Đáy, tham gia xây dựng Lăng
Chủ tịch Hồ Chí Minh, cử nhiều đoàn cán bộ kỹ thuật, kỹ sư vào giúp các
Ty Giao thông phía Nam, tổ chức đoàn công tác “TN76” tham gia thiết kế,
thi công xây dựng đường sắt Thống Nhất đoạn Đà Nẵng- Phù Mỹ với chiều
dài 250 km… Qua hoạt động thực tiễn tại hiện trường đã đem lại nhiều
hiệu quả thiết thực, nâng cao chất lượng đào tạo và góp phần phát triển
kinh tế, củng cố quốc phòng của đất nước. Cùng với việc đào tạo cán
bộ có trình độ Đại học, từ năm học 1978- 1979, trường bắt đầu tổ chức
việc bồi dưỡng Sau Đại học. Năm học 1980- 1981, Trường chính thức được
Nhà nước công nhận là cơ sở đào tạo NCS với 9 chuyên ngành ( sau nâng
lên thành 11 chuyên ngành). Nhiều NCS của Trường đã bảo vệ thành công
Luận án Phó Tiến sỹ, trong đó có NCS người nước ngoài đầu tiên là
Bua-xỉ Lò-Văn-Xay (nước CHDCDN Lào). Thực hiện nghị quyết 14 NQ-TW
ngày 11/10/1979 của Bộ Chính trị về cải cách giáo dục, từ năm học 1987-
1988 trở đi, quy mô ngành nghề và hình thức đào tạo của trường đã có sự
thay đổi theo hướng đa dạng hoá các loại hình và mềm hoá quá trình đào
tạo cho phù hợp với với yêu cầu của cơ chế thị trường trong nền kinh tế
hàng hoá nhiều thành phần. Trên cơ sở đó, Nhà trường đã nghiên cứu và
xây dựng được danh mục ngành nghề đào tạo gồm 7 ngành với 23 chuyên
ngành; tổ chức đào tạo đại học dài hạn theo hệ chuẩn và áp dụng quy
trình đào tạo 2 giai đoạn. Cũng từ năm học 1987- 1988, Nhà trường từng
bước chuyển việc tổ chức quá trình đào tạo từ niên chế thuần tuý sang
học chế học phần kết hợp với niên chế. Ngoài hệ dài hạn, chuyên tu,
chuyển cấp, dự bị đại học... đã có từ trước, Nhà trường mở thêm một số
loại hình đào tạo khác như hệ mở rộng, ngắn hạn; đào tạo tại chức theo
hình thức hợp đồng với địa phương và cơ sở sản xuất, đồng thời nhận
nhiệm vụ đào tạo cán bộ KHKT về GTVT cho Cam-pu-chia. Để đào tạo cán bộ
phục vụ phát triển GTVT các tỉnh phía Nam, tháng 4 năm 1990 Bộ Giáo dục
và Đào tạo đã cho phép Trường thành lập Cơ sở II tại Thành phố Hồ Chí
Minh với nhiệm vụ đào tạo cán bộ có trình độ đại học về xây dựng giao
thông, cơ khí giao thông, điện khí hoá giao thông, kinh tế vận tải, bưu
chính viễn thông và tổ chức NCKH, chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực
GTVT, bưu chính- viễn thông vào thực tiễn sản xuất tại TP Hồ Chí Minh
và các tỉnh phía Nam. Công tác nghiên cứu khoa học trong giai đoạn
này có được những điều kiện thuận lợi để có bước phát triển mới. Qua
nhiều năm giảng dạy, nghiên cứu, lực lượng cán bộ khoa học ngày càng
đông đảo. Kế hoạch, phương hướng nghiên cứu được gắn liền với yêu cầu
giảng dạy và thực tiễn của ngành, mỗi năm trung bình có từ 30- 50 đề
tài nghiên cứu. Nhiều đề tài có giá trị được ứng dụng vào thực tiễn.
Cùng với việc đẩy mạnh công tác đào tạo, NCKH, Nhà trường cũng khẩn
trương bắt tay vào xây dựng cơ sở vật chất theo hướng ổn định và lâu
dài. Ngay từ năm 1975- 1976, Nhà trường đã xây dựng quy hoạch trên cả 3
khu đất của Trường ( Cầu Giấy, Voi Phục, Láng), củng cố nhà cũ, bố trí
sắp xếp lại nơi ăn ở, làm việc, học tập; sửa sang mặt bằng, đường đi
lối lại, mở rộng Thư viện, xưởng thực tập, xây dựng nhà học 5
tầng...Các phòng thí nghiệm, mô hình cũng được mở rộng. Công tác
đối ngoại kể từ sau năm 1975 dần đi vào ổn định và phát triển. Trường
đã đặt mối quan hệ hợp tác với các trường như: Đại học Đường sắt
Mát-xcơ- va và viện IPK ( Liên Xô), Đại học Kỹ thuật Darmstard và Đại
học Giao thông Dresden (Đức), Trường Quốc gia Cầu- Đường Pa-ri và Viện
INSALYON( Pháp).... Trường cũng đã nhiều lần cử các đoàn cán bộ sang
các trường bạn làm nghiên cứu sinh, thực tập sinh để nâng cao trình độ
chuyên môn. Bước sang thời hỳ đổi mới, Nhà trường chủ trương:
“Tiếp tục đổi mới mục tiêu, nội dung và chương trình nhằm mục tiêu đào
tạo những điều mà nền kinh tế xã hội cần có ở người học và từng bước mở
rộng quy mô đào tạo phù hợp với khả năng của Nhà trường, đồng thời đáp
ứng được nhu cầu cán bộ khoa học của ngành GTVT”. Với chủ trương đó,
quy mô đào tạo tăng khá nhanh, số lượng sinh viên tuyển vào hàng năm
tăng khoảng 30%. Từ năm học 1994- 1995, tyhực hiện chủ trường của Bộ
Giáo dục và Đào tạo chuyển trọng tâm cải cách giáo dục sang đổi mới mục
tiêu, nội dung, chương trình và phương pháp giảng dạy, Các Hội đồng
ngành và Hội đồng chuyên ngành đã tiến hành xây dựng mục tiêu, kế hoạch
đào tạo theo diện rộng; thực hiện mềm hoá nội dung chương trình bằng
cách xây dựng 3 loại học phần: bắt buộc, tự chọn theo hướng dẫn và tuỳ
ý, Trường đã xây dựng xong chương trình đào tạo giai đoạn 2 cho 12
ngành với 23 chuyên ngành, biên soạn đề cương chi tiết cho 1.620 đơn vị
học trình; dần chuyển việc đào tạo theo học chế học phần kết hợp với
niên chế sang học chế học phần triệt để. Từ năm học 1998- 1999, thực
hiện quyết định của Bộ về bỏ quy định cứng trong đào tạo 2 giai đoạn,
Hội đồng Khoa học và Đào tạo trường nhanh chóng xây dựng nội dung,
chương trình đào tạo mới; đã hoàn chỉnh chương trình đào tạo cho 10
ngành với 27 chuyên ngành, 7 chương trình đào tạo bằng 2, 6 chương
trình đào tạo chuyển đổi từ ngắn hạn sang dài hạn, 2 chương trình
chuyển đổi từ Cao đẳng lên Đại học, đồng thời bước đầu áp dụng công
nghệ mới trong đào tạo như: Đào tạo theo học phần triệt để cho 2 ngành
Cơ khí và Công trình, tổ chức thi theo phương pháp “Trắc nghiệm khách
quan” cho một số môn học. Từ năm 1999 đến nay, Nhà trường tiếp tục thực
hiện việc mở rộng quy mô đào tạo, bằng những biện pháp mềm dẻo, linh
hoạt như tuyển sinh theo điểm chung, phân ngành cho SV ngay sau khi
nhập học...Nhà trường đã tổ chức một số lớp có chất lượng cao như các
lớp Cầu Đường tiếng Pháp, Cầu Đường tiếng Anh. Đào tạo tại chỗ được ưu
tiên cho các địa phương thuộc vùng sâu vùng xa hoặc các đơn vị có nhu
cầu cấp thiết về cán bộ KHKT . Ngoài các loại hình đào tạo đã ổn định,
Nhà trường còn mở thêm nhiều hình thức mới như đào tạo lại, đào tạo
chuyển giao công nghệ, tổ chức các lớp đào tạo nâng cao năng lực cho
cán bộ ngành GTVT Việt Nam, thực hiện đề án đào tạo 2 giai đoạn với
Trường ĐH Kỹ thuật Tổng hợp Giao thông Mat-xcơ-va ( MIIT)…Chất lượng
đào tạo được đảm bảo, sinh viên của trường tốt nghiệp ra trường có
chuyên môn vững, khả năng thích ứng nhanh, được các đơn vị sử dụng lao
động chấp nhận. Cùng với việc mở rộng quy mô đào tạo đại học, đào
tạo sau đại học cũng có bước phát triển mới. Từ năm học 1992- 1993, Nhà
trường đã tiến hành xây dựng chương trình đào tạo Cao học cho 3 nhóm
ngành: Cơ khí giao thông, Xây dựng Công trình giao thông và Quản trị
kinh doanh GTVT. Từ năm học 1993- 1994, Trường bắt đầu đào tạo hệ Cao
học. Các Hội đồng ngành cũng tiến hành xây dựng chương trình đào tạo
Tiến sỹ gồm 14 chuyên ngành. Công tác nghiên cứu khoa học tiếp tục
có những bước phát triển rất đáng phấn khởi. Mỗi năm, Trường tiến hành
nghiên cứu nhiều đề tài cấp Nhà nước, 30- 40 đề tài cấp Bộ và cấp Bộ
trọng điểm, 30- 40 đề tài cấp trường. Chất lượng các đề tài nghiên cứu
ngày càng được nâng cao, nhiều đề tài đã đạt giải thưởng cao như 2 giải
Nhất Giải thưởng công nghệ Quốc gia (VIFOTEC) năm 1996, 1997 . Nhiều đề
tài được áp dụng vào thực tiễn và mang lại hiệu quả lớn đối với sản
xuất . Các đề tài nghiên cứu cũng góp phần quan trọng để bồi dưỡng đội
ngũ, nâng cao năng lực quản lý Nhà trường. Số lượng đề tài NCKH của
sinh viên không ngừng tăng, hàng năm có từ 200- 300 đề tài nghiên cứu
có chất lượng tốt, thu hút hàng nghìn sinh viên tham gia. Đội ngũ
Giảng viên và Cán bộ quản lý của trường không ngừng được bổ sung cả về
số lượng lẫn chất lượng. Hàng năm, nhà trường tuyển mới hàng trăm Giảng
viên; gửi đi đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn, khả năng sư phạm ở
trong nước và ở nước ngoài. Cơ sở vật chất của Nhà trường trong
giai đoạn này có những bước phát triển vượt bậc. Từ một giảng đường 5
tầng duy nhất được xây dựng vào đầu những năm đất nước thống nhất, đến
nay, hệ thống phòng học của trường đã tương đối hoàn chỉnh; xoá bỏ hoàn
toàn phòng học cấp 4 . Trang thiết bị thí nghiệm được bổ sung, nâng cấp
theo hướng hiện đại hoá, đã có được một số phòng thí nghiệm đồng bộ,
đạt tiêu chuẩn quốc gia. Điều kiện làm việc của CB-GV-CNV được cải
thiện. Các hoạt động văn hoá, thể dục, thể thao được tổ chức thường
xuyên với nhiều hình thức phong phú. Nhà trường thực hiện tốt Quy chế
dân chủ ở cơ sở, từng bước thực hiện cải cách thủ tục hành chính, nâng
cao hiệu lực, hiệu quả trong công tác. Trong 45 năm qua, nhất là
trong 20 năm đổi mới trong điều kiện hết sức khó khăn, nhưng trường Đại
học Giao thông Vận tải đã phấn đấu không ngừng, vượt qua các khó khăn,
thử thách để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, đã tạo được những bước tiến
mang tính đột phá và đạt được nhiều thành tích trong các lĩnh vực đào
tạo, nghiên cứu khoa học, quan hệ quốc tế, xây dựng đội ngũ, xây dựng
cơ sở vật chất, thực hiện nghiêm chỉnh chủ trương chính sách của Đảng,
pháp luật của Nhà nước, tạo nên những nền tảng vững chắc để đưa trường
đi lên trong thời kỳ đổi mới. Có được thành quả trên là nhờ sự đoàn kết
nhất trí, năng động sáng tạo, dám nghĩ dám làm và dám chịu trách nhiệm
vượt qua khó khăn của các thế hệ Thầy, Cô giáo, CB- CNV và các thế hệ
Sinh viên. Hàng vạn sinh viên tốt nghiệp ra trường, đã cống hiến tài
năng, trí tuệ góp phần phát triển nền kinh tế quốc dân. Một số đã phấn
đấu trở thành những nhà khoa học đầu ngành, những cán bộ quản lý chủ
chốt ở các cơ quan, ở các địa phương đã và đang phát huy tài năng của
mình trên mọi miền đất nước. Trong giai đoạn tới, Trường đại học
Giao thông vận tải kỳ vọng trở thành một trường đại học kỹ thuật- công
nghệ tiên tiến, đa ngành, đa cấp học; có chất lượng đào tạo cao, có đội
ngũ Giảng viên và cán bộ quản lý đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng;
có cơ sở vật chất hiện đại; có năng lực tài chính dồi dào; có cơ chế
quản lý năng động và hiệu quả; có khả năng hợp tác và cạnh tranh tốt;
sớm tiếp cận với trình độ đào tạo của các trường đại học trong khu vực
và trên thế giới. Với mục tiêu đó, toàn trường sẽ tiếp tục mở rộng
quy mô đào tạo, áp dụng học chế tín chỉ và quy trình kiểm định chất
lượng trong đào tạo; cập nhật những chương trình đào tạo tiên tiến của
thế giới dưới những hình thức phù hợp. Đẩy mạnh chương trình xây dựng
đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý theo đúng chuẩn chức danh. Cơ sở vật
chất của trường tiếp tục được nâng cấp và hiện đại hoá, trong đó tập
trung xây dựng một số phòng thí nghiệm đạt tiêu chuẩn quốc gia và quốc
tế; triển khai dự án mở rộng trường tại khu vực lân cận Hà Nội.
Trường đại học GTVT hôm nay
QUYẾT ĐỊNH SỐ 332/2007/ QĐ-CTN CỦA CHỦ TỊCH NƯỚC CHXHCNVN PHONG TẶNG DANH HIỆU ANH HÙNG CHO TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI
Thống kê
Lượt truy cập: 41820
Số người truy cập: 79
Thành viên: 0