THÔNG TIN LUẬN ÁN TIẾN SĨ CỦA NCS. ĐỖ VĂN THÁI | Trang thông tin điện tử Trường ĐH Giao thông vận tải

THÔNG TIN LUẬN ÁN TIẾN SĨ CỦA NCS. ĐỖ VĂN THÁI

THÔNG TIN LUẬN ÁN TIẾN SĨ CỦA NCS. ĐỖ VĂN THÁI

Tên đề tài: 
Nghiên cứu sử dụng đất đá thải từ các mỏ than khu vực Cẩm Phả, Quảng Ninh làm đường ô tô
Chuyên ngành: 
Kỹ thuật xây dựng công trình giao thông
Mã số chuyên ngành: 
9580205
Họ và tên nghiên cứu sinh: 
Đỗ Văn Thái
Họ và tên cán bộ hướng dẫn: 
GS.TS. Phạm Huy Khang
PGS.TS. Nguyễn Hữu Trí
Cơ sở đào tạo: 
Trường Đại học Giao thông vận tải

THÔNG TIN TÓM TẮT

NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN

 

Tên đề tài:     Nghiên cứu sử dụng đất đá thải từ các mỏ than khu vực Cẩm Phả, Quảng Ninh làm đường ô tô.

Ngành                 : Kỹ thuật Xây dựng Công trình Giao thông

Mã số                  : 9580205

Chuyên ngành   : Xây dựng Đường ô tô và đường thành phố

Họ và tên nghiên cứu sinh:             Đỗ Văn Thái

Họ và tên cán bộ hướng dẫn:

GS.TS Phạm Huy Khang         Trường Đại học Giao thông Vận tải

PGS.TS Nguyễn Hữu Trí         Viện KH&CN Giao thông Vận tải

Cơ sở đào tạo: Trường Đại học Giao thông Vận tải.

Tóm tắt những đóng góp mới của luận án:

1. Từ kết quả khảo sát tại hiện trường, nghiên cứu thí nghiệm và phân loại đất đá trong phòng thí nghiệm chính tỏ: đất, đá bãi thải ĐCS khu vực Cẩm Phả, Quảng Ninh không có độc hại, là nguồn vật liệu phi tiêu chuẩn có thể sử dụng trong xây dựng nền, móng đường ô tô, tiết kiệm được tài nguyên thiên nhiên và giảm được ô nhiễm môi trường.

2. Trên cơ sở nghiên cứu cơ sở lý thuyết cấp phối, lý thuyết gia cố vật liệu và nghiên cứu thí nghiệm trong phòng có quy hoạch và phân tích thống kê đầy đủ đã lựa chọn và đề xuất được 02 loại cấp phối A-ĐCS và AB-ĐCS, được sản xuất từ đất, đá thải “nguyên khai” bãi thải ĐCS đạt CPĐD loại II trong [7] và đạt tiêu chuẩn để gia cố xi măng làm lớp móng đường ô tô theo [8] (Bảng 2.11; Bảng 2.13).

3. Đã thí nghiệm xác định được các chỉ tiêu kỹ thuật của 02 cấp phối A-ĐCS và AB-ĐCS gia cố xi măng với các tỷ lệ khác nhau và chỉ ra lượng xi măng dùng để gia cố từ 4% trở lên đều có sử dụng để làm móng dưới cho đường ô tô các cấp và móng trên cho các đường cấp III trở xuống hoặc làm tầng mặt (trên có lớp láng nhựa) của loại mặt đường cấp cao A2 hoặc lớp mặt đường GTNT.

4. Qua kết theo dõi và đánh đoạn đường thử nghiệm đã xây dựng tại hiện trường nhận thấy:  

  • Kết cấu mặt đường thử nghiệm như dẫn ở Hình 3.2 (lớp dưới là cấp phối AB-ĐCS; lớp trên là cấp phối AB-ĐCS gia cố xi măng 6%; lớp mặt là láng nhựa 3 lớp) đạt được Eyc = 110 Mpa, đã khai thác sử dụng hơn một năm với tải trọng trục 10T vẫn chưa có dấu hiệu hư hỏng, bong tróc.
  • Có thể áp dụng dây chuyền cơ giới kết hợp với thủ công đơn giản để sản xuất cấp phối đất, đá thải bao gồm máy cơ sở nghiền đá mini công suất 15 m3/ca (Hình 3.4) kết hợp với máy xúc và nhân công.
  • Hoàn thiện công nghệ thi công lớp Cấp phối AB - ĐCS gia cố xi măng kết hợp với thử nghiệm giải pháp tạo đường nứt trước bằng cách cắt khe giả trên lớp Cấp phối AB - ĐCS gia cố xi măng kết hợp với sử dụng lớp nhựa nhũ tương a xít bảo dưỡng.
  • Qua theo dõi diễn biến phát triển các vết nứt trong quá trình bảo dưỡng thấy rằng vết nứt trong lớp Cấp phối AB - ĐCS gia cố xi măng ở phân đoạn không cắt khe vẫn tiếp tục phát triển theo thời gian nhưng ở phân đoạn có cắt khe gần như dừng lại.

5 .Đã xác định được các thông số của lớp vật liệu A-ĐCS và AB-ĐCS không gia cố và có gia cố xi măng phục vụ cho tính toán thiết kế kết cấu mặt đường. Đã đề xuất phạm vi áp dụng và tính toán thiết kế được 8 loại kết mặt đường có sử dụng lớp vật liệu đất, đá thải mỏ than khu vực Cẩm Phả, Quảng Ninh, trong đó có 05 loại áp dụng cho đường GTNT; 02 loại áp dụng cho đường ô tô thông thường và 01 loại có thể áp dụng cho đường ô tô có lưu lượng giao thông lớn.

6. Đã xác định được các chỉ tiêu kỹ thuật của 2 cấp phối A-ĐCS và AB-ĐCS gia cố với các tỷ lệ xi măng nghiên cứu. Đã xây dựng được phương trình hồi quy cường độ nén và cường độ ép chẻ của AB-ĐCS theo tỷ lệ xi măng 6% và biến số thời gian.

 

BRIEF INFORMATION ON

NEW CONTRIBUTIONS BY THE THESIS

 

Title: Research on utilization of waste rock and soil in the coal mines of Cam Pha area, Quang Ninh for automobile road construction

Discipline          : Transport Construction Engineering

Code                   : 9580205

Major                  : Automobile and urban road construction

Doctoral candidate:             Đỗ Văn Thái

Academic supervisors

Prof. Dr. Phạm Huy Khang     University of Transport and Communications

Assoc. Prof. Dr. Nguyễn Hữu Trí   Institute of Transport Science & Technology

Training institution: University of Transport and Communications

Briefing on new contributions by the thesis

1. The results from site survey, experimental research and rock classification in the laboratory have showed that the soil and rock of the waste dump in ​​Cam Pha, Quang Ninh is not toxic and can serve as a non-standard material source to be used in the construction of automobile road pavement and foundation, therefore saving natural resources and reducing environmental pollution.

2. On the basis of the aggregate theory, the material reinforcement theory and the experimental research in the lab with adequate planning and statistical analysis, 02 types of aggregates A-ĐCS and AB-ĐCS, produced from the ‘original’ waste soil and rock in the ĐCS waste dump achieving the quality of macadam aggregate Class II in [7] and the standards for cement reinforcement to build automobile road foundation as per [8] (Table 2.11; Table 2.13) have been selected and recommended.

3. The experiments have also helped determine the technical specifications of 02 types of aggregate A-ĐCS and AB-ĐCS reinforced with cement at different rates and indicated that the amount of cement used for reinforcement from 4% plus can be used for the lower foundation of the automobile roads of all levels and the upper foundation for roads of grade III or lower, or for the pavement (covered by asphalt) of high-grade roads A2 or the pavement of rural roads.

4. The results from monitoring and evaluating the test section on site have revealed:

  • The structure of the tested pavement as shown in Figure 3.2 (the lower layer is of aggregate AB-ĐCS; the upper layer is of aggregate AB-ĐCS reinforced with 6% cement; the surface is asphalted with 3 layers) reaches Eyc = 110 Mpa and has not shown any signs of deterrioration or peeling after over a year in use under 10T axle load.
  • Mechanized production lines can be combined with simple manual performance to produce aggregate of waste soil and rock; for instance, a mini rock grinder with capacity of 15 m3 /shift (Figure 3.4) works in combination with an excavator and labourers.
  • Finalizing the construction technology of cement reinforced aggregate AB - ĐCS in combination with creating a crack first by cutting the fake gap on the AB - ĐCS aggregate layer, then cement reinforcement together with use of acidic asphalt emulsion for maintenance.
  • By monitoring the development of cracks during the maintenance process, it was found that the cracks in the cement reinforced aggregate AB - ĐCS in the non-cut section still continued to develop over time but in the section with gap cutting, the slot almost stopped.

5. The parameters of aggregate A-ĐCS and AB-ĐCS with and without cement reinforcement have been determined for calculation of pavement structure. The application scope has been proposed for design calculation of 8 types of pavement sstructures using waste soil and rock of the coal mines in Cam Pha area, Quang Ninh, including 05 types for rural roads; 02 types for ordinary automobile roads and 01 type possibly used for roads of heavy traffic.

6. The technical specifications of 02 types of aggregate A-ĐCS and AB-ĐCS reinforced at studied cement rates have been determined. The regression equations of compressive strength and split compressive strength of AB-ĐCS have also been developed according to the rate of 6% cement and time variable.

Đính kèm: 

Lấy tin RSS

Đăng kí nhận Lấy tin RSS