Thông tin về luận án tiến sỹ của nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Bạch Dương | Trang thông tin điện tử Trường ĐH Giao thông vận tải

Thông tin về luận án tiến sỹ của nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Bạch Dương

Thông tin về luận án tiến sỹ của nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Bạch Dương

Tên đề tài: 
Phân tích mô hình tính toán kết cấu công trình bến cảng đặc biệt lắp ráp nhanh trong giai đoạn thi công xây dựng tại Việt Nam
Chuyên ngành: 
Xây dựng Công trình đặc biệt
Mã số chuyên ngành: 
62.58.50.05
Họ và tên nghiên cứu sinh: 
Nguyễn Thị Bạch Dương
Họ và tên cán bộ hướng dẫn: 
PGS.TS. Phạm Văn Giáp – Đại học Xây Dựng
PGS.TS. Hoàng Hà – Vụ KHCN - Bộ Giao thông Vận tải
Cơ sở đào tạo: 
Trường Đại học Giao thông vận tải
TÓM TẮT NHỮNG KẾT LUẬN MỚI CỦA LUẬN ÁN
1. Giới thiệu và đề xuất giải pháp về kết cấu BLRN tạo cơ sở trong xây dựng các công trình cảng cho phát triển kinh tế biển tại Việt Nam. BLRN với các đặc tính ưu việt như: xây dựng được trên nền đất yếu; thi công trong thời gian ngắn; tận dụng được độ sâu của biển không cần phải  nạo vét nhiều, có thể xây dựng gần bờ hoặc xa bờ tại khu vực biển kín, biển hở hoặc bán hở; kết cấu vững chắc, sử dụng lâu dài, đáp ứng nhu cầu ra và vào cảng loại tàu có mớn nước lớn; có thể tái sử dụng. Đề xuất một số vị trí áp dụng BLRN tại Việt Nam: Lạch Huyện, Đà Nẵng, Dung Quất, Vân Phong, Phú Quý, Côn Đảo, khu vực Cái Mép - Thị Vải, Vũng Tàu.
2. Đã xây dựng được mô hình tính toán BLRN điển hình trong các giai đoạn thi công và khai thác: mô hình cọc - kích, mô hình sà lan - kích, mô hình tính BLRN trong khai thác. Các mô hình này ứng với các thành tựu khoa học mới trong tin học, trong cơ học đất – nền móng và các tiêu chuẩn phù hợp để tính toán hiện nay như: 
+ Mô hình tính cọc – kích: đề xuất áp dụng lý thuyết tấm (hoặc vỏ) trên nền đàn hồi, cách xác định hệ số đàn hồi theo tiêu chuẩn Nhật Bản cho phần tử tấm (hoặc vỏ) thuộc bộ phận cọc.
+ Mô hình tính sà lan – kích với các chuyển vị cưỡng bức tại các vị trí liên kết giữa sà lan với kích.
+ Mô hình tính BLRN trong khai thác: chọn được mô hình liên kết cọc -đất là các gối đàn hồi ưu việt hơn mô hình ngàm chặt được minh chứng cụ thể qua các ví dụ, đồng thời mỗi mô hình tính có các quy phạm tương ứng, các phần mềm tính toán phù hợp. 
3. Đề xuất sự kết hợp giữa quy phạm phân cấp và đóng tàu biển Việt Nam và tiêu chuẩn về công trình bến, móng cọc, tải trọng tác dụng cho  nghiên cứu thiết kế sơ bộ BLRN và viết chương trình thiết kế sơ bộ các bộ phận bên trên BLRN bằng phần mềm Excel, đề xuất phạm vi ứng dụng BLRN.  
4. Đề xuất các bài toán phân tích kết câú BLRN mẫu cũng như các trường hợp tính toán điển hình trong trạng thái thi công và khai thác. 
5. Lựa chọn các phần mềm kết cấu PTHH sẵn có ở Việt Nam như SAP 2000, MIDAS/Civil để mô hình hoá và kiểm toán bài toán phân tích ứng suất và biến dạng kết cấu làm cho việc nghiên cứu tính toán thiết kế dạng BLRN được hoàn thiện. Đề xuất áp dụng chương trình Sap 2000 để tính toán cho mô hình cọc-kích trong thi công, MIDAS/Civil để tính toán cho các mô hình sà lan – kích, mô hình tổng thể BLRN khi khai thác và không khai thác trong điều kiện không được che chắn.
6. Đề xuất phân đoạn BLRN mẫu phù hợp với điều kiện Việt Nam: sà lan 90x24x4m, nền cọc ống thép D=1.8m. Với sà lan mẫu này đáp ứng cho thiết kế phân đoạn BLRN mẫu đáp ứng 6 ví dụ cho tàu 50.000DWT (2 VD), 80.000 DWT, 150.000DWT (2VD), 1 ví dụ BLRN khi không khai thác trong điều kiện không được che chắn với các điều kiện tự nhiên bất lợi ở Việt Nam bước đầu cho kết quả đáng tin cậy. Sà lan mẫu sử dụng 4 kích Delong đôi lắp đặt tại các vị trí xác định trên sà lan mẫu đảm bảo an toàn và ổn định trong quá trình lắp dựng. Ngoài ra các kích làm việc không lệch nhau quá 0.05m (thời gian điều chỉnh các kích hoạt động đồng bộ không quá 40 giây). 
7. Đề xuất một số giải pháp khi kết quả của việc phân tích mô hình tính BLRN chưa thoả mãn theo TTGH.

Lấy tin RSS

Đăng kí nhận Lấy tin RSS