Thông tin luận án tiến sĩ của NCS Lê Lăng Vân | Trang thông tin điện tử Trường ĐH Giao thông vận tải

Thông tin luận án tiến sĩ của NCS Lê Lăng Vân

Thông tin luận án tiến sĩ của NCS Lê Lăng Vân

 

THÔNG TIN VỀ LUẬN ÁN ĐƯA LÊN MẠNG

 

Tên đề tài:       Đánh giá trạng thái kỹ thuật động cơ đầu máy diesel vận dụng trên đường sắt Việt Nam bằng phương pháp phân tích dao động và phân tích dầu bôi trơn.

Chuyên ngành: Khai khác, bảo trì đầu máy xe lửa, toa xe.

Mã số chuyên ngành: 62.52. 44.01

Họ và tên nghiên cứu sinh: Lê Lăng Vân               

Họ và tên cán bộ hướng dẫn:            - GS. TS. Đỗ Đức Tuấn – Đại học GTVT

                                                            - PGS. TSKH. Lại Ngọc Đường – Đại học GTVT

Cơ sở đào tạo: Trường Đại học Giao thông Vận Tải.

Tóm tắt những đóng góp mới của luận án:

1.      Luận án đã tổng hợp và phân tích các nghiên cứu trong và ngoài nước về các vấn đề liên quan đến đánh giá trạng thái kỹ thuật của máy móc thiết bị nói chung và động cơ diesel nói riêng. Các phương pháp đánh giá trạng thái kỹ thuật động cơ diesel được phân tích và đánh giá khả năng sử dụng trong ngành đường sắt Việt Nam nhằm mục đích xác định các đặc trưng hư hỏng của động cơ để phục vụ chẩn đoán trạng thái kỹ thuật.

2.      Luận án đã nghiên cứu ứng dụng phương pháp phân tích dao động và phương pháp phân tích dầu bôi trơn, hạt mài mòn để chẩn đoán kỹ thuật động cơ diesel, đối tượng thí nghiệm cụ thể là động cơ K6S230DR trên đầu máy D12E vận dụng tại Xí nghiệp đầu máy Hà Nội.

3.      Luận án nghiên cứu thực nghiệm trên động cơ đầu máy D12E cho thấy phân tích dao động và phân tích dầu bôi trơn, hạt mài mòn trên động cơ đầu máy D12E cho thấy phân tích dao động và phân tích dầu bôi trơn, hạt mài mòn là một phương pháp có được nhiều thông tin cần thiết để khẳng định kết quả chẩn đoán. Luận án đã nghiên cứu phân tích dầu bôi trơn trong chẩn đoán  về các hướng chính là: nghiên cứu về hình dáng, kích thước hạt mài, số lượng hạt mài và hàm lượng một số nguyên tố kim loại có trong dầu bôi trơn. Nghiên cứu cũng đưa ra các giới hạn về hàm lượng một số nguyên tố đối với một số cấp sửa chữa đầu máy D12E.

4.      Kết quả nghiên cứu cho thấy, ở tốc độ vòng quay lớn nhất của động cơ (1150 v/p), dao động theo phương thẳng đứng tại các đỉnh xi lanh 1, 3, và 6 trước khi vào cấp đại tu, vận tốc dao động nằm trong phạm vi 27 - 29 mm/s, còn sau khi đại tu nằm trong phạm vi 21-22 mm/s.

5.      Đối với dao động ngang, tại vận tốc tối đa của động cơ, vận tốc dao động trước khi sửa chữa là 5,3 - 6,6 mm/s; sau khi sửa chữa là 4,9-6,4 mm/s. Chênh lệch về vận tốc dao động theo phương ngang của động cơ trước và sau sửa chữa không lớn (1-8 %). Như vậy dao động theo phương ngang thể hiện không rõ nét sự khác nhau giữa hai lần đo truuwosc và sau khi sửa chữa như dao động thẳng đứng.

6.      Phân tích thành phần kim loại có trong dầu bôi trơn đã xác định được hàm lượng tạp chất giới hạn khi đầu máy vào các cấp sửa chữa. Các giới hạn này là căn cứ quan trọng bên cạnh căn cứ về mức tiêu thụ dầu bôi trơn của động cơ mà Tổng Công ty Dường sắt Việt Nam sử dụng để quyết định có giải thể hay không giải thể động cơ ở cấp sửa chữa Rv (100 000 km).

Kết quả nghiên cứu của đề tài này đóng góp tích cực cho chẩn đoán và dự báo trạng thái kỹ thuật của động cơ, phát hiên sớm các hư hỏng của động cơ diesel trên đầu máy, kịp thời khắc phục, lên kế hoạch bỏa dưỡng sửa chữa, rút ngắn thời gian sửa chữa, đảm bảo nhiệm vụ vận chuyển hàng hóa và hành khác an toàn trên các tuyến đường sắt Việt Nam

Hệ đào tạo: 

Lấy tin RSS

Đăng kí nhận Lấy tin RSS