Ngày 21/7, Khoa Công trình - Trường Đại học Giao thông vận tải đã tổ chức Tọa đàm kỹ thuật "Mặt đường bê tông nhựa rỗng thoát nước cho các dự án đường cao tốc tại Việt Nam"

Tọa đàm thu hút sự tham dự của các chuyên gia, nhà khoa học, giảng viên, doanh nghiệp và các đơn vị hoạt động trong lĩnh vực xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông (Ảnh tapchixaydung)
Buổi Tọa đàm có sự tham dự của các chuyên gia, nhà khoa học, giảng viên, đại diện doanh nghiệp và các đơn vị hoạt động trong lĩnh vực xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông. Chương trình tập trung trao đổi về hiện trạng công nghệ tạo nhám mặt đường cao tốc tại Việt Nam; kinh nghiệm nghiên cứu, ứng dụng mặt đường nhựa thoát nước tại Trung Quốc; giải pháp sử dụng cốt liệu đá vôi và đặc tính của nhựa đường cải tiến dùng cho bê tông nhựa rỗng thoát nước.

GS.TS Bùi Tiến Thành - Trưởng khoa Công trình phát biểu khai mạc (Ảnh tapchixaydung)
Phát biểu khai mạc tọa đàm, GS.TS Bùi Tiến Thành - Trưởng khoa Công trình cho biết, bản chất của mặt đường chất lượng không chỉ là khả năng chịu tải đơn thuần mà cốt lõi là duy trì được độ ma sát và độ an toàn vận hành liên tục dưới tác động của thời tiết và tải trọng. Đối với các tuyến hạ tầng giao thông cao tốc quy mô lớn, đặc biệt như dự án mở rộng QL1A đoạn Phú Xuyên - Đại Cồ Việt với bề rộng mặt đường lên tới 90m, bài toán tiêu thoát nước bề mặt không chỉ là một chi tiết phụ mà chính là yếu tố quyết định đến tuổi thọ công trình và an toàn giao thông. “Khi diện tích mặt đường phủ rộng, lượng nước mưa tích lũy trên mặt gia tăng đáng kể nếu không thoát nhanh, hiện tượng trượt nước sẽ trực tiếp đe dọa sự an toàn của các phương tiện. Ứng dụng bê tông nhựa rỗng thoát nước chính là lời giải tận gốc cho bài toán này. Tuy nhiên, việc tăng độ rỗng để thoát nước luôn đi kèm với thách thức về độ bền kết cấu, khả năng chống hằn lún và lão hóa chất kết dính dưới khí hậu nhiệt đới ẩm như Việt Nam." - GS.TS Bùi Tiến Thành nhấn mạnh.

TS Trần Thị Cẩm Hà - Bộ môn Đường bộ trình bày tham luận (Ảnh Việt Linh - VTVonline)
Trình bày tham luận tại tọa đàm, TS Trần Thị Cẩm Hà - Bộ môn Đường bộ cho biết, độ nhám mặt đường luôn là yếu tố then chốt trên các tuyến đường cao tốc khi tốc độ lưu thông trên các tuyến đường cao tốc từ 80-120km/h, nguy cơ xảy ra trượt nước khi trời mưa và yêu cầu lớp mặt đường cần đạt cường độ, độ bằng phẳng, độ bền và đồng thời có độ nhám phù hợp, ổn định trong suốt quá trình khai thác. Tại Việt Nam hiện nay, hệ thống tiêu chuẩn về lớp tạo nhám mặt đường đã tương đối đầy đủ tuy nhiên còn thiếu định hướng lựa chọn công nghệ phù hợp theo điều kiện khí hậu, lưu lượng xe, tốc độ khai thác và hiệu quả kinh tế vòng đời.
Các công nghệ tạo nhám đang áp dụng hiện nay gồm công nghệ lớp phủ siêu mỏng Novachip, lớp phủ mỏng VTO và bê tông nhựa rỗng thoát nước (BTNRTN) điển hình tại các tuyến cao tốc như Pháp Vân-Cầu Giẽ, Hà Nội-Lào Cai, Ninh Bình-Hải Phòng (đoạn qua Ninh Bình),... Theo TS Cẩm Hà, công nghệ BTNRTN là một giải pháp rất có ý nghĩa so với các công nghệ tạo nhám bề mặt thông thường. "Trọng tâm trong giai đoạn tới, cần hình thành hệ thống tiêu chí lựa chọn, nghiệm thu và quản lý độ nhám mặt đường cao tốc một cách khoa học, hiện đại và phù hợp với điều kiện Việt Nam"

GS. Cao Dongwei chia sẻ kinh nghiệm ứng dụng mặt đường bê tông nhựa thoát nước tại Trung Quốc (Ảnh tapchixaydung)
Chia sẻ kinh nghiệm ứng dụng mặt đường nhựa thoát nước tại Trung Quốc, GS.Cao Dongwei - Nghiên cứu viên, Phó Tổng công trình sư, Viện Khoa học Đường bộ, Bộ Giao thông Vận tải Trung Quốc cho biết, mạng lưới đường bộ Trung Quốc có quy mô xây dựng và cải tạo rất lớn, đồng thời yêu cầu của xã hội đối với giao thông đã chuyển từ "đủ hay chưa đủ" sang "tốt hay chưa tốt". Qua quá trình nghiên cứu - ứng dụng tại Trung Quốc đã chứng minh mặt đường bê tông nhựa thoát nước với bốn nhóm chức năng có thể giảm suất tai nạn ngày mưa trên 40%, giảm ồn 3–10 dB(A), hiện thực hóa việc nâng cấp chức năng và chất lượng mặt đường.
Qua 20 năm nghiên cứu và phổ biến ứng dụng, hơn mười đề tài khoa học và trên bốn mươi công trình thực tế đã lần lượt khắc phục các "nút thắt" công nghệ, đưa mặt đường thoát nước trở thành công nghệ công trình hoàn thiện, tin cậy. Thiết kế, thi công tốt và quản lý chất lượng nghiêm ngặt là then chốt bảo đảm tính năng; hệ thống công nghệ đồng bộ về kết cấu mặt đường, hệ thống thoát nước, vật liệu then chốt, công nghệ thi công và kiểm định chuyên dụng đã được nghiên cứu phát triển; thực tiễn cao tốc Diêm Thông cho thấy độ bền trên 12 năm với đường cao tốc giao thông nặng.

TS. Nguyễn Huỳnh Tấn Tài – Trưởng phòng R&D, Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng BMT trình bày tham luận (Ảnh Việt Linh - VTVonline)
Trình bày tham luận tại tọa đàm, TS. Nguyễn Huỳnh Tấn Tài – Trưởng phòng R&D, Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng BMT đã cung cấp kết quả thí nghiệm trong phòng, ghi nhận thi công thực tế và theo dõi bước đầu tại hiện trường đối với hỗn hợp bê tông nhựa rỗng thoát nước sử dụng nhựa đường biến tính PMB-S. Theo TS Tài, trong điều kiện Việt Nam đang mở rộng mạng lưới cao tốc, vành đai, cầu lớn, đường cảng, khu công nghiệp và các tuyến giao thông có lưu lượng, tải trọng ngày càng cao, yêu cầu đối với mặt đường hiện nay không chỉ dừng lại ở khả năng chịu tải thông thường. Mỗi giải pháp vật liệu mới cần được đánh giá toàn diện trên cơ sở khoa học và kiểm chứng trong điều kiện khai thác thực tế. Đối với hỗn hợp nhựa rỗng thoát nước, ngoài khả năng thoát nước, các chỉ tiêu về cường độ, độ ổn định, khả năng kháng hằn lún và độ bền lâu dài là những yếu tố quyết định khả năng ứng dụng trên công trình. Nhận định này phản ánh một xu hướng mới trong phát triển hạ tầng giao thông: đổi mới vật liệu không chỉ nhằm tạo ra một sản phẩm mới, mà nhằm giải quyết các bài toán cụ thể của công trình như thoát nước mặt đường, hạn chế bắn nước khi xe chạy tốc độ cao, tăng độ ổn định kết cấu, giảm nguy cơ hằn lún vệt bánh xe và nâng cao an toàn khai thác.
"Việc đưa các giải pháp vật liệu mới vào thực tiễn cần có sự đồng hành của cơ quan quản lý, trường đại học, đơn vị nghiên cứu, doanh nghiệp, tư vấn và nhà thầu thi công. Đổi mới vật liệu là một quá trình liên tục. Mỗi kết quả nghiên cứu được kiểm chứng, mỗi công trình được theo dõi và mỗi dữ liệu hiện trường được bổ sung sẽ góp phần hoàn thiện cơ sở khoa học cho việc ứng dụng các giải pháp phù hợp với điều kiện giao thông Việt Nam", TS Nguyễn Huỳnh Tấn Tài chia sẻ.
Từ những trao đổi tại tọa đàm có thể thấy, đổi mới vật liệu không đơn thuần là câu chuyện của công nghệ. Đó là một phần trong hành trình xây dựng hệ thống hạ tầng giao thông an toàn hơn, bền vững hơn và thích ứng tốt hơn với biến đổi khí hậu, tải trọng giao thông và yêu cầu phát triển trong tương lai.


